Quần đảo Trường Sa thuộc Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam
Spratly Islands belong to Vietnam. The Paracel Islands belong to Vietnam

#SpratlyIslandsbelongtoVietnam. #TheParacelIslandsbelongtoVietnam 

Quảng cáo

Những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy:

– Hải Ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong quyển 3 của Hải Ngoại kỷ sự đãnó i đến Vạn Lý Trường Sa , khẳng định Chúa Nguyễn đãsai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.
– Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc. Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa (Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam theo cách gọi của Trung Quốc). Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực nam của biên giới phía nam của Trung Quốc. Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1-1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt bắc ngôi miếu “Hoàng Sa Tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée), lại là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam.

Cây bàng vuông ở quần đảo Trường Sa (Việt Nam)

Về những tư liêụ Phương Tây cũng xác nhâṇ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa

Nhâṭ ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuôc̣ về nước An Nam (Việt Nam thời pháp thuộc). “Le Mémoire sur la Cochinchine” của Jean Baptiste Chaigneau (1769 – 1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng điṇ h năm 1816 vua Gia Long đãxác lâp̣ chủ quyền Viêṭ Nam trên quần đảo Paracels.

Hoa bàng vuông ở quần đảo Trường Sa (Việt Nam)
Trái bàng vuông ở quần đảo Trường Sa (Việt Nam)
Hoa phong ba ở quần đảo Trường Sa (Việt Nam)

“Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes” của giám muc̣ Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng điṇ h chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm1816. An Nam đaị quốc hoạ đ ồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838, phụ bản của cuốn từ điển La tinh – Annam, ghi rõ« Paracels seu Cá t Vàng » vớ i toạ đô ̣rõràng như hiêṇ nay chứ không phải như Trung Quốc cho là ven bờ biển . (« Seu » tiếng la tinh có nghiã « hay là », Cát Vàng: chữ nôm, Hoàng Sa: chữHán).. The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI đãđăng bà i của giám muc̣ Taberd xác nhâṇ vua Gia Long chính thức giữchủ quyền quần đảo Paracels) . The Journal of the Geographycal Society of London (năm 1849) GutzLaff ghi nhâṇ chính quyền An Nam lâp̣ ra những trưng thuyền và môṭ traị quân nhỏ để thu thuế ở Paracels… …. Về sau Trung Hoa đưa ra những bằng chứng nguỵ taọ nói ngược lại luận điệu ban đầu, từng cho là đất vô chủ hồi 1909, cho rằng Tây Sa đã thuôc̣ Trung Quốc từ lâu . Ngay tên Tây Sa và Nam Sa (theo cách gọi của Trung Quốc về 2 quần đảo Trường sa, Hoàng Sa của Việt Nam) cũng mới đăṭ từ sau năm 1907 và Nam Sa lại bất nhất khi chỉ Trung Sa, khi chỉ Nam Sa ở vi ̣trí hiên nay (Spratleys). Có chăng thời Minh hay thời Hán thì cả nước Nam đã bi ̣Trung Hoa đô hô ̣ , thời Tống Đaị Viêṭ cũng bi ̣xâm lươc̣ , song đã giành đươc̣ đôc̣ lâp̣ rồi! Sự thực chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa đã rõ ràng như trên . Vậy mà chỉ vì Việt Nam bị Pháp đô hộ, mất hết chủ quyền, khi bị Trung Hoa xâm phạm, chính quyền thực dân Pháp không bảo vệ kịp thời. Đến khi Chính quyền thực dân Pháp thay đổi quan điểm, bảo vệ chủ quyền cho Việt Nam tại Hoàng Sa thì đã quá trễ và không thuyết phục vì thật ra Pháp chỉ là nước đi xâm lược. Sự thưc̣ là bất cứ chính quyền nào kể cả chính quyền thuôc̣ điạ chiụ trách nhiêṃ về quản lý Hoàng Sa và Trường Sa , chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Viêṭ Nam taị Hoàng Sa và Trường Sa. Và nguyên nhân chủ yếu khiến cho Trung Quốc tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa chính là Việt Nam đã bị Pháp đô hộ và chịu ảnh hưởng những biến động chính trị quốc tế cũng như quốc nội, nhất là từ thời chiến tranh laṇh và sau này. Sự thưc̣ lic̣h sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lic̣h sử dâñ đến sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đã quá rõ ràng như thế thì khi Việt Nam không còn bi ̣Pháp đô hô ̣và tình hình thế giới và Viêṭ Nam đã biến chuyển, khác trước thì giải pháp phải là “cái gì của César phải trả lại cho César”. Không một chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào dù khác chính kiến đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa.

Lịch sử cho biết dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên cường, bất khuất, khi có thời cơ, sẽ đấu tranh thành công. Đối với các nước Asian trên cơ sở Công ước quốc tế về luật biển năm 1982, sẽ tương nhượng trong tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong khối càng ngày càng chặt chẽ, đôi bên đều có lợi. Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông, đã có những bài học lịch sử quí giá. Việt Nam với truyền thống hàng ngàn năm luôn kiên quyết bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình, song luôn luôn tôn trọng nước đàn anh Trung Quốc, luôn theo truyền thống làm “phên dậu của Trung Quốc”, không bao giờ làm hại đến quyền lợi Trung Quốc. Bất cứ giải pháp nào dựa vào sức mạnh như người Nhật đánh chiếm bằng vũ lực Hoàng Sa, Trường Sa năm 1938, 1939 hoặc thực dân Pháp suốt thập niên 20 đến thập niên 50 thế kỷ XX dựa vào ưu thế quân sự của mình cũng như Trung Quốc dùng võlực năm 1974 chỉ mang tính nhất thời. Có đế quốc nào mạnh như đế quốc La Mã thời cổ đại hay đế quốc Mông Cổ thời trung đại hay đế quốc Anh, Pháp thời cận đại, rồi có ngày cũng suy yếu, phải bỏ những lănh thổ chiếm giữ bằng võlực. Bất cứ giải pháp nào muốn vững bền phải dựa trên sự thực lịch sử nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự trước tiên taị Hoàng Sa và Trường Sa , chưa có ai tranh chấp và phải dựa vào trật tự thế giới hiện hành khi có Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945 và những Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc sau đó và Công ước quốc tế về luật biển năm 1982. Mọi người kể cả người Trung Quốc phải thấy rõ sự thật lịch sử trên! Viêṭ Nam phải luôn luôn nhắc đi nhắc laị cho cả thế giới đươc̣ biết rằng vu ̣Trung Quốc dùng võ lưc̣ chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974 là trái phép hoàn toàn , trái với Hiến Chương và các nghị quyết của Liên Hiêp̣ Quốc. Không thể để cho Trung Quốc coi vu ̣chiếm đóng Hoàng Sa như đãxong. Khi nội lực Việt Nam chưa đủ mạnh thì dứt khoát không ký kết bất cứ một hiệp định nào gây sự thiệt haị cho Việt Nam. Việc cần làm ngay là làm rõ, quảng bá lịch sử nhà nước Việt Nam đã từ lâu chiếm hữu thật sự Hoàng Sa và Trưởng Sa và xây dựng nội lực Việt Nam vững mạnh, đoàn kết hùng cường. Sự đấu tranh đòi laị Hoàng Sa cho Viêṭ Nam cũng như sự bảo toàn quần đảo Trường Sa là cuôc̣ đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhất điṇh sẽ thành công cũng như Viêṭ Nam đã từng bị phong kiến phương Bắc đô hô ̣hơn môṭ ngàn năm , khi có thời cơ, sẽ giành đươc̣ đôc̣ lâp̣ tự chủ .

Theo : TS. Nguyễn Nhã
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Nguồn: http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=785018e9-6bcd-4da3-9a27-791b8ae54ddd&groupId=13025

Xem thêm:
– Dịch vụ đo đạc tại thành phố Hồ Chí Minh
– Giới thiệu máy toàn đạc điện tử Leica
– Phần mềm bóc khối lượng
– Phần mềm bình sai lưới trắc địa
– Dịch vụ định vị công trình xây dựng chất lượng cao tại thành phố Hồ Chí Minh
– Tổng hợp những phần mềm dành cho kỹ sư xây dựng,phần mềm dành cho kỹ sư trắc địa

Bình luận